Nếu, để chống nỗi sợ nhiễm coronavirus, chúng ta bắt nhà thờ phải quỳ gối…

Báo La Stampa: “Nếu, để chống nỗi sợ nhiễm coronavirus, chúng ta bắt nhà thờ phải quỳ gối…”

Corona in Catholic Church
Buổi Cầu Nguyện tại nhà thờ Công giáo ở Hồng Kông. David G. McIntyre / EPA

Andrea Riccardi, nhà sử học, nhà hàn lâm, sáng lập Cộng đoàn Sant’Egidio năm 1968. Thời chính quyền Monti, ông là người lo về sự hợp tác quốc tế.

Nhà xã hội học người Mỹ Rodney Stark lưu ý thái độ của các tín hữu kitô tiên khởi đã có cách hành xử dứt khoát đến như thế nào: họ không chạy trốn ra ngoài thành phố như dân ngoại.

Nhiều nhà thờ ở miền bắc nước Ý đóng cửa, thánh lễ không có, tang lễ được cử hành trong riêng tư chỉ có người thân và các biện pháp loại này đã làm cho tôi đau lòng.

Tôi không phải là nhà dịch tễ học, nhưng chúng ta có thực sự đối diện với các hiểm nguy quá lớn để phải bỏ đời sống cộng đồng của mình không? Cẩn thận là cần thiết nhưng chắc chắn chúng ta đừng để mình bị khống chế bởi nhân vật chính vĩ đại của thời buổi này: nỗi sợ. Nhưng, các cửa tiệm, các siêu thị, các quán rượu (một số) mở cửa, xe buýt, xe điện ngầm chạy bình thường. Vậy mới nói. Còn nhà thờ được xếp như rạp hát và rạp chiếu phim (buộc phải đóng cửa). Nhà thờ có thể mở cửa nhưng không có cầu nguyện chung. Đâu là nguy hiểm trong các thánh lễ hàng tuần chỉ có một ít người tham dự, ngồi rải rác trên các băng ghế trống không trong các ngôi nhà thờ to lớn? Còn ít người hơn trong quán bar, trong siêu thị hay trong xe điện ngầm. Chỉ ở thành phố Émilie các thánh lễ trong tuần mới được phép dâng. Nhưng cũng là biểu hiện của Giáo hội với các cơ quan dân sự.

Các nhà thờ không chỉ là nơi “hội họp” rủi ro, nhưng cũng là nơi của tinh thần: nguồn lực trong thời kỳ khó khăn, mang lại an ủi và hy vọng, nhắc cho chúng ta nhớ, chúng ta không tự mình cứu mình được. Tôi không muốn đi ngược về thời của Thánh Charles Borromée năm 1576-77, thời dịch hạch ở thành phố Milan (nạn dịch này còn nặng hơn coronavirus và lúc đó mọi người chiến đấu bằng tay không), nhưng vào thời đó người dân đi thăm người bệnh, cung nhau cầu nguyện, đi chân đất đi kiệu để xin cho nạn dịch được chấm dứt. Chắc chắn, cầu nguyện chung trong nhà thờ nuôi dưỡng cho tình tương trợ và hy vọng. Chúng ta biết các động lực, mạnh mẽ và thiêng liêng, đã giúp cự lại với cơn bệnh: đó là kinh nghiệm chung. Nhà xã hội học người Mỹ Rodney Stark viết về chủ đề sự khổ hạnh của tín hữu kitô trong các thế kỷ đầu tiên, lưu ý thái độ của họ, họ có cách hành xử dứt khoát đến như thế nào: họ không chạy trốn ra ngoài thành phố như dân ngoại, nhưng được thúc đẩy bởi động lực đức tin, họ đi thăm người bệnh, nâng đỡ và cùng cầu nguyện chung, họ chôn cất kẻ chết. Tốt lành đến mức tỷ lệ sống sót của họ cao hơn người lương dân, vì họ tận tâm giúp đỡ, vì các mối quan hệ cộng đồng, dù không có thuốc. Thời buổi thay đổi, nhưng các biện pháp chống coronavirus gần đây của chính quyền như muốn tầm thường hóa nhà thờ cho thấy tâm lý của các người cầm quyền.

Trước sự “sợ hãi” lớn lao, chỉ có thông điệp chính trị lên tiếng, nhân vật chính duy nhất và không mấy tin tưởng trong những ngày này. Sự im lặng trong các nhà thờ (dù mở cửa) là một khoảng trống trong xã hội: nguyên sự việc cùng tự nguyện cầu nguyện chung cũng đã là một thông điệp hoàn toàn khác, dù cần phải thận trọng và tự kiểm soát. Phương tiện truyền thông xã hội, đài phát thanh, đài truyền hình không thay thế được. Chúng ta có thể hiểu vì sao Đức Tổng Giám mục Nosiglia, giáo phận Torino lấy làm tiếc quyết định của Vùng Piémont (cũng như các vùng khác ở miền bắc) “các nghi lễ tôn giáo được xem như phù phiếm và như thế không được miễn các biện pháp hạn chế”. Như thế là “phù phiếm.” Đây là một sự việc để suy nghĩ: đây là sản phẩm của đường lối nuôi dưỡng sợ hãi, đôi khi nó hiển thị qua các biểu tượng tôn giáo. Nhưng biểu tượng tôn giáo tiêu biểu là hình ảnh một cộng đoàn cầu nguyện. Ngay cả vào thời buổi dội bom và trong thời Thế chiến Thứ hai (khi Giáo hội là tâm hồn cho sự đứng vững của cả một dân tộc), các nhà thờ cũng không bị đóng cửa, các buổi cầu nguyện cũng không bị ngưng. Ngược lại, dân chúng tin tưởng họp nhau trong các nhà thờ, bất chất hiểm nguy của bom đạn và tàn sát. Chắc chắn sự hợp tác của nhà chức trách giáo hội địa phương với nhà cầm quyền vẫn bị cho như quá phụ thuộc vào nhà cầm quyền. Để cuối cùng tầm thường hóa sự hiện diện và đóng góp của Giáo hội, người mang lại phần đóng góp của mình cho đời sống người dân. Các tang lễ cử hành riêng tư ở nghĩa trang chỉ với thân nhân. “Thinh lặng” và không có nghi thức tôn giáo làm nặng và làm khó khăn thêm cho tình huống. Chúng ta cố gắng nghe cảm nhận của “dân Chúa” : ở thành phố Pa-đua, gia đình của một thiếu nữ 14 tuổi quá đau lòng đã từ chối tang lễ trong vòng riêng tư, và họ đã được chính quyền cho tổ chức tang lễ bên ngoài để có nhiều người trẻ tham dự.

Marta An Nguyễn dịch

Khuyến cáo của Giới Y Tế Công Giáo TGP Sài Gòn về Phòng chống Bệnh Viêm Đường Hô Hấp Cấp