Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thánh lễ Truyền Dầu 2018 tại Vatican

    Anh em linh mục giáo phận Roma và anh em linh mục các giáo phận khác trên toàn thế giới, thân mến!

    Khi đọc phụng vụ Lời Chúa hôm nay, tôi để tâm chú ý đoạn trích sách Đệ nhị luật nói rằng: “Có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người?” (Đnl 4,7). Sự gần gũi của Thiên Chúa… Sự gần gũi của Đấng là mục tử của chúng ta.

    Trong bài đọc trích sách ngôn sứ Isaia, chúng ta chiêm ngưỡng vị sứ giả của Chúa, vị ấy “được sức dầu và được sai đi”, đến giữa dân Chúa, đến gần người nghèo, người đau ốm và các tù nhân… Thần Khí Chúa ngự trên vị ấy, để tăng sức và đồng hành với vị ấy trên suốt hành trình.

    Trong Thánh Vịnh 88, chúng ta thấy cách thức gần gũi của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dẫn dắt Vua Đavit ngay từ khi Đavit còn rất trẻ. Chúa gìn giữ ông khi ông về già. Chúa ban cho ông danh hiệu thành tín: sự gần gũi của Thiên Chúa vững bền qua muôn thế hệ, và đó chính là lòng thành tín của Chúa.

    Sách Khải Huyền đưa chúng ta lại gần Thiên Chúa, diện đối diện. Những lời ấy như sau: “Kìa mọi ánh mắt sẽ nhìn thấy Người, và cả những kẻ đã đâm Người cũng nhìn thấy Người”. Những lời ấy làm cho chúng ta nhận ra rằng, các vết thương của Đấng Phục Sinh là luôn luôn nhìn thấy được. Chúa luôn đến với chúng ta, như người thân cận của chúng ta, như thân thể của những ai đau khổ, đặc biệt là những người bé nhỏ.

    Trọng tâm bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa qua ánh mắt của chính người dân, vì lúc đó, mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Chúa (Lc 4:20). Chúa Giêsu đứng dậy đọc sách trong hội đường Nazaret. Người mở sách ra và đọc sách ngôn sứ Isaia. Mở ra, người gặp đoạn nói về người Tôi Tớ, chép rằng: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã sức dầu tấn phong tôi…” (Is 61:1). Khi kết thúc, Chúa đã đánh thức người nghe nhận ra sự gần gũi được hàm chứa trong những lời Sách Thánh. Chúa nói: “Hôm nay, ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai quý vị vừa nghe” (Lc 4:21).

    Chúa Giêsu gặp thấy và đọc lên sách thánh trong sự thông hiểu của một kinh sư. Người cũng có thể trở thành một nhà thông luật hoặc biệt phái, nhưng không, Chúa muốn trở thành Người loan báo Tin Mừng. Chúa muốn trở thành người giảng dạy trên đường phố, trở thành người mang tin vui cho người dân, trở thành vị sứ giả bước những bước chân như tiên tri Isaia loan báo: Đẹp thay bước chân người loan báo tin mừng!

    Đây là chọn lựa tuyệt vời của Thiên Chúa: Chúa chọn sống gần gũi dân Chúa. Suốt ba mươi năm sống ẩn dật! Chỉ sau ba mươi năm sống cùng mọi người, Chúa mới bắt đầu đời rao giảng. Ở đây, chúng ta thấy phương pháp sư phạm của mầu nhiệm Nhập Thể, phương pháp hội nhập văn hóa, không chỉ đối với các văn hóa nước ngoài, nhưng trong chính giáo xứ của chúng ta, trong thứ văn hóa mới mẻ của người trẻ.

    Sự gần gũi không chỉ là tên gọi của một nhân đức, mà còn là một thái độ kết nối toàn thể con người ta, gắn kết cách thức mà chúng ta tương quan với nhau, định hình cung cách mà chúng ta quan tâm đến bản thân và đến tha nhân… Khi người giáo dân nói về một linh mục rằng: “cha ấy rất thân thiện gần gũi chúng tôi”, thì giáo dân có ý nói hai điều. Thứ nhất có nghĩa rằng: cha ấy luôn hiện hiện với chúng tôi. Điều này trái ngược với điều mà nhiều người sẽ nói: Thưa cha, con biết cha rất bận… Thứ hai có nghĩa, rằng vị linh mục ấy sẵn lòng tiếp chuyện mọi người, rằng vị linh mục ấy nói chuyện với mọi người, với người lớn, với trẻ nhỏ, với người nghèo, với người chưa có niềm tin… Các linh mục phải là những người gần gũi, ở giữa người dân. Các linh mục phải là những người luôn sẵn lòng ở giữa mọi người vì mọi người, sẵn lòng nói chuyện với mọi người… tựa như những vị linh mục đường phố.

    Một trong những người học được từ Chúa Giêsu cách thế trở thành nhà rao giảng đường phố, đó là Philipphe. Trong sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta đọc thấy tông đồ Philipphe ra đi loan báo Tin Mừng khắp các thành phố với đầy niềm vui (Cv 8:4.5-8). Philipphe là một trong những người mà Thần Khí có thể bắt lấy bất cứ lúc nào, và thúc đẩy ông ra đi loan báo Tin Mừng từ nơi này đến nơi khác, để làm phép rửa cho tha nhân, ngay cả cho vị quan của nữ hoàng Etiopia (Cv 8:5.36-40).

    Sự gần gũi rất quan trọng đối với các thừa tác viên loan báo Tin Mừng, vì sự gần gũi là một trong những thái độ then chốt trong Tin Mừng. Chúa thường nói về điều ấy khi nhắc tới Nước Trời. Chúng ta có thể chắc chắn rằng, sự gần gũi thân thiện là yếu tố then chốt của lòng thương xót, vì giống như người Samaritano nhân hậu, sẽ chẳng có lòng thương xót nếu không biết rút ngắn khoảng cách mà tiến lại giúp đỡ tha nhân. Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng, sự gần gũi là yếu tố then chốt của sự thật. Có thể rút ngắn khoảng cách để biết được sự thật cần được quan tâm hay không? Có chứ. Bởi vì sự thật không chỉ là một định nghĩa về những hoàn cảnh hoặc những điều này nọ từ một khoảng cách, bằng những lối luận lý trừu tượng. Sự thật không chỉ thế. Sự thật, chân lý cũng là sự thành thực. Điều này đòi hỏi chúng ta gọi tên anh chị em bằng cái tên thực sự của họ, chứ không phải theo những phạm trù hoặc theo những cái danh theo chức bậc theo hoàn cảnh này nọ.

    Chúng ta phải cẩn thận, để khỏi rơi vào cám dỗ của những thần tượng, cám dỗ của những chân lý trừu tượng. Cám dỗ ấy cung cấp những thần tượng thoải mái, những lối đi dễ dãi, những uy tín này nọ, những quyền lực khó có thể nhận định. Những loại thần tượng của kiểu chân lý trừu tượng ấy, dường như khoác lấy dáng vẻ của Tin Mừng, nhưng hãy cẩn thận, đừng để những lời ấy chạm vào trái tim. Bởi vì lối cám dỗ ấy rất tệ, bởi vì các cám dỗ ấy tách rời người thường dân ra khỏi sự gần gũi chữa lành của lời Chúa và của bí tích mà Chúa đã lập.

    Ở đây, chúng ta hãy trở về với Mẹ Maria, Mẹ của các linh mục. Chúng ta cũng có thể gọi Mẹ là “Đức Bà của sự gần gũi”. Như một người Mẹ đích thật, Mẹ luôn đồng hành từng bước bên ta. Mẹ chia sẻ với ta những khó khăn và Mẹ phủ bóng chúng ta bằng tình yêu mến của Thiên Chúa, và từ đó chúng ta không bao giờ có thể cảm thấy rằng mình bị bỏ rơi (Niềm Vui Tin Mừng, 286). Mẹ gần gũi chúng ta không chỉ bằng cách vội vã lên đường phục vụ, mà còn bằng cách Mẹ diễn tả ý kiến của Mẹ. Trong tiệc cưới tại Cana, vào đúng lúc cần, Mẹ đã nói với những người giúp tiệc rằng: “Người bảo gì, thì các anh cứ làm theo”. Lời nói của Mẹ trở thành khuôn mẫu cho ngôn ngữ của giáo hội. Nhưng để có thể nói những lời như Mẹ đã nói, chúng ta không chỉ xin Mẹ ơn để làm điều ấy, nhưng chúng ta còn phải biết hiện diện trong những giây phút quan trọng đối với mỗi tâm hồn, mỗi gia đình, hoặc mỗi nền văn hóa. Chỉ nhờ sự tốt lành gần gũi ấy mà chúng ta mới có thể nhận thấy rằng, đang thiếu rượu, và rằng đâu là rượu tốt nhất mà Chúa muốn ban cho chúng ta.

    <